Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh
Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Hà Nội
Cao Đẳng chuyên khoa TP.HCM
Giảng viên phụ trách: ĐĐ. Thích Giác Hiệp
Đề cương bài giảng: PHÂN BIỆT GIỚI
(Dhātunirdeśa)
I. Đại ý:
- Kính lễ Thế Tôn
- Mục đích tạo luận của luận sư
- Ý nghĩa và lợi ích của luận
- Thuyết minh về bản thể/tính chất của pháp hữu vi và vô vi
II. Nội dung:
A. Pháp hữu vi
Trong thế gian này tuy có nhiều pháp thế nhưng không ngoài hai loại hữu vi và vô vi, như: sắc uẩn, thọ uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Pháp hữu vi bao gồm: khổ, tập, đạo.
Pháp hữu vi được nêu:
又諸有為法 謂色等五蘊
亦世路言依 有離有事等 (Đ.29.2.1)
1. Pháp hữu vi: tính chất của chúng luôn:
- Thay đổi
- Sinh diệt
- Không trường cửu…
2. Pháp hữu lậu: là các pháp hữu vi ngoại trừ Đạo đế
- Lậu hoặc/phiền não tuỳ thuận tăng trưởng:
+ Gây mê vọng
+ Tổn hại thiện căn
+ Nghịch Thánh ý
+ Môi trường chấp trước…
+ Nhân của 3 cõi
3. Phân tích các uẩn: Phần này có 2:
a. Sắc
Tính chất của sắc uẩn là băng hoại, thay đổi, do tác động của lạnh, nóng, đói, khát…
b. Các uẩn khác: thọ, tưởng, hành, thức
- Thọ: có 3 trạng thái cảm nhận, tri giác, lãnh thọ, lãnh nạp: khổ, lạc, và phi khổ phi lạc.
- Tưởng: bản chất có nó là nhận rõ, nắm bắt đối tượng
- Hành: tức thay đổi, tạo tác. Ngòai 4 uẩn: sắc, thọ, tưởng, thức, tất cả các pháp hữu vi còn lại đều thuộc hành uẩn.
- Thức: nhận thức rõ ràng từng vấn đề, đây là sự tri nhận, sự tiếp thu từng cảnh riêng.
4. Ý nghĩa sắp xếp các uẩn:
a. Thứ lớp từ thô đến tế: 5 uẩn được xếp theo thứ tự từ dễ nhận thấy cho đến vi tế khó cảm nhận.
b. Thứ lớp nhiễm: Theo thứ tự tác động của phiền não.
c. Thứ lớp tuỳ khí:
d. Thứ lớp giới biệt
5. Thiết lập 3 khoa: Uẩn, xứ, giới
Nghĩa của uẩn, xứ, giới là: tích tụ, cửa ngõ, giới. Tích tụ nhiều phẩm loại sai khác gọi là uẩn; căn, cảnh là nơi phát sinh tâm, tâm sở, nên gọi là xứ; tự tánh các pháp sai biệt nên gọi là giới.
B. Pháp vô vi: 3 pháp vô vi, tính chất:
- Không đổi thay
- Không chướng ngại
- Phiền não không tuỳ thuận tăng trưởng, xa lìa hệ phược
1. Hư không vô vi: vô ngại, vì tánh của nó là không chướng ngại
2. Trạch diệt vô vi: nhờ trí tuệ quyết định nên xa lìa được những trói buộc
3. Phi trạch diệt vô vi: Rốt rao làm ngăn ngại các pháp sẽ sinh, nên gọi là phi trạch diệt
C. Ý nghĩa thiết lập 3 khoa: Sở dĩ nói 3 khoa là vì
1. Ngu: chấp trước sắc tâm, tùy theo loại chấp mà nói 5 uẩn, 12 xứ hay 18 giới.
2. Căn tánh: hữu tình căn tính cao thấp, 3 loại khác nhau, nên tùy theo đó nói 5 uẩn, 12 xứ hay 18 giới
3. Sự ưa thích: thích nghe tóm lược, vừa hay rộng nên tùy theo đó nói 5 uẩn, 12 xứ hay 18 giới
III. Kết luận:
- Đức Phật công hạnh tự lợi, lợi tha viên mãn, vượt mọi Thánh chúng. Ngài đã diệt trừ tất cả vô tri che đậy chân thật.
- Tính chất của pháp hữu vi là biến dịch, sinh diệt
- Tính chất của pháp hữu lậu là phát sinh phiền não, phiền não tuỳ thuận phát sinh.
- Tính chất của pháp vô lậu là phiền não không thể tuỳ thuận phát sinh.