Về trang chủ
, 06:03 (GMT+7)
Chuyên san Tri Thức Phật Giáo
Trắc nghiệm trực tuyến
Giáo dục
Đề cương: Câu-xá (4) PHÂN BIỆT CĂN (Indriyas)
11/07/2009 18:15 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

http://www.phatgiao.vn/images/news/cay.jpg
 

PHẨM 2: PHÂN BIỆT CĂN (Indriyas)

I. ĐẠI Ý:

Phẩm Phân Biệt Căn có một số nội dung:

   1.      22 căn, khả năng và tác dụng của các căn này
   2.      Ý nghĩa các pháp câu sinh
   3.      Tính chất của pháp câu sinh
   4.      Nhân quả. Sáu nhân, bốn duyên và năm quả

Vì phẩm này đề cập nhiều loại như vậy nên 阿毘達磨順正理論 còn gọi phẩm này là phẩm Sai biệt.

II. NỘI DUNG:

   1.      Nói về 22 căn:
Quan trọng nhất trong hình thành nghiệp đó là sự hoạt động của các căn. Nếu các căn thiện phát triển thì nghiệp thiện phát sinh. Nếu các căn nhiễm phát triển thì ác nghiệp phát sinh. Luận Câu xá chia căn ra làm 22 loại.

22 căn gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân (cơ quan phát thức), nam căn, nữ căn (sự sai biệt của hữu tình), mạng căn (khả năng tồn tại của một chúng sinh), ưu, hỷ, khổ, lạc, xả (thuộc pháp ô nhiễm), ý căn (khả năng tiếp nối sinh tử tự tại, tùng hành), tín, tấn, niệm, định, tuệ (năm căn thanh tịnh), vị tri đương tri, dĩ tri, cụ tri (3 căn vô lậu), 8 căn sau thuộc pháp thanh tinh.

Căn mang ý nghĩa: Tối thắng, Tự tại, Quang hiển. Thể của căn vượt trội nên gọi là tối thắng, dụng vượt trội gọi là tự tại, thể dụng vượt trội gọi là quang hiển. Do căn có nghĩa tăng thượng nên gọi là căn, mọi sự việc đều nhờ chúng mà tăng thượng. Nhờ sự tăng thượng này mà các pháp đều hiệu hữu.阿毘達磨藏顯宗論: 以增上義別說為根。彼彼事中得增上故。雖增上 義諸法皆有。(Đ.29.795.1)

1. Năm căn
Năm căn như: mắt, tai… mỗi một căn có khả năng tăng thượng trong 4 khía cạnh:

a. 莊嚴身, b. 導養身,  c. 生識, d. 不共事

2. Ý căn
Đây là tâm vương, làm chỗ tựa cho 6 thức. Ý căn có khả năng tăng thượng trong 2 khía cạnh là: tiếp nối đời sau, và tự tại tuỳ hành (tự vận hành)

3. Hai căn: nữ, nam có khả năng tăng thượng. Đối với 2 giới tính chúng khác nhau về giới tính (chúng loại nam, nữ hữu tình), khác nhau về hình tướng (tiếng nói, hình dáng)

4. Ưu, hỷ, khổ, lạc, xả (5 thọ căn)
Đối với pháp nhiễm, tịnh có khả năng tăng thượng, các pháp nhiễm ô, pháp thanh tịnh.

5. Tín, tấn, niệm, định, tuệ
Tăng thượng cho các pháp thanh tịnh.

6. Mạng
Nó có công năng tăng thượng đối với sự tồn tại. Mạng căn cũng là dị thục.

7. Ba căn vô lậu
Luận Câu-xá tóm tắc ý nghĩa 3 căn:

見 修 無 學 道      依 九 立 三 根  (Đ.29.14.3)

Ba căn vô lậu là: vị tri đương tri, dĩ tri, cụ tri dựa theo ba đạo: kiến đạo, tu đạo, vô học đạo để kiến lập và lấy 9 căn: ý, hỷ, lạc, xả, tín, tấn, niệm, định, tuệ làm thể.

a. Vị tri đương tri 未知當知: Sẽ biết điều chưa được biết. Ở địa vị kiến đạo có những điều chưa từng biết (khổ, tập, diệt, đạo), nay có hành tướng biết đang chuyển khởi. gọi đó là vị tri đương tri.
b. Dĩ tri căn已知: ở địa vị tu đạo, không có cái chưa từng biết, đã biết tất cả những điều cần nên biết (khổ, tập, diệt, đạo). Do thường xuyên liễu tri nên gọi là dĩ tri căn.
c. Cụ tri具知: Ở địa vị vô học đạo, biết mình đã biết nên gọi là tri, tức biết rõ Thánh đế đã biết. Có được cái biết này nên gọi là cụ tri. Hoặc huân tập cái biết này thành tánh nên gọi là cụ tri.

   2.      Ý nghĩa các pháp câu sinh
Các pháp hữu vi tuy tính chất bất đồng, thế nhưng không thể đơn độc phát sinh. Chúng phải có những pháp khác đồng thời, nương nhau mới phát sinh, nên gọi là câu sinh. Các pháp  theo Câu xá tuy nhiều nhưng có thể liệt vào 5 loại: 1. sắc, 2. tâm, 3. tâm sở, 4. tâm bất tương ưng hành, 5. Vô vi.

Sự câu sinh của các pháp có liên quan đến tâm vương và tâm sở.

心心所必俱  諸行相或得 (Đ.29.18.3)

Tâm và tâm sở nhất định phải cùng sinh khởi, nếu thiếu một thời các pháp không khởi.

1.  Tâm sở pháp:
Loại này gồm 46 thứ chia thành 6 nhóm:

a          Đại địa pháp có 10 thứ:

受想思觸欲  慧念與作意

勝解三摩地  遍於一切心 (Đ.29.19.1)

Có 10 loại: thọ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thẳng giải, tam ma địa

Địa chỉ cho tâm vương. Tâm vương là mảnh đất mà tâm sở hiện hành và lưu hành trên đó. 10 tâm này có công dụng rất lớn thông cả 3 tâm, thiện, ác và vô ký.

b          Đại thiện địa pháp có 10 thứ:

信及不放逸  輕安捨慚愧

 二根及不害  勤唯遍善心 (Đ.29.19.1 ~ p.19.2)

Có 10 loại:  tín, cần, xả, tàm, quý, vô tham, vô sân, bất hại, khinh an, bất phóng dật

10 tâm sở này thuộc thiện tánh nên gọi là thiện.

c          Đại phiền não địa pháp có 6 thứ:

癡逸怠不信  惛掉恒 唯 染 (Đ.29.19.3)

Có 6 loại: si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử

Tánh của 6 tâm sở này thuộc về ác và hữu phú vô ký, nhiễm ô hay làm não loạn lòng người.

d          Đại bất thiện địa pháp có 2 thứ:

唯遍不善心  無慚及無愧 (Đ.29.20.1)

Có 2: vô tàm, vô quý

Vì tánh của 2 tâm sở này thuộc về ác, và khắp các ác tâm đều có nó xuất hiện nên gọi là đại bất thiện.

e          Tiểu phiền não địa pháp có 10 thứ:

 忿覆慳嫉惱  害恨諂誑憍

 如是類名為  小煩惱地法 (Đ.29.20.1)

Có 10 loại: phẩn, phú, san, tật, não, hại, hận, xiểm, cuống, kiêu

Bản tánh của nó giống như đại phiền não. Nó chỉ khởi lên riêng biệt theo đệ lục ý thức nên gọi là tiểu phiền não

f           Bất định địa pháp:

Có 8 loại:  tầm, tứ, hối, miên,tham, sân, mạn, nghi

Tánh chất của các loại tâm sở này không thuộc thiện như đại thiện địa, cũng không nhiễm ô như đại và tiểu phiền não địa pháp và đại bất thiện địa pháp. Nó tuỳ lúc trở thành thiện, hoặc ác, hoặc vô ký. Cho nên nó được gọi là bất định

2.  Tâm bất tương ưng hành:

Có 14 loại: đắc, phi đắc, mênh căn, đồng  phận,  vô tưởng định, vô tưởng quả, diệt tận  định, sinh, trụ, dị, diệt, danh thân, cú  thân, văn thân

Các loại này không tương ứng với tâm pháp nên gọi là tâm bất tương ưng hành để phân biệt với tâm sở. hành là hành uẩn.

3.  Tính chất của các pháp câu sinh:

Dù Hữu bộ chủ trương các pháp là thực hữu, nhưng vẫn chấp nhận quá trình thành hoại.

相謂諸有為  生住異滅性(Đ.29.27.1)

此於諸法能起名生。能安名住。能衰名異。能壞名滅。(Đ.29.27.1)

   1.      Tích chất hỗ tương sinh khởi của sắc pháp:
Sắc pháp là chỉ cho từ căn thân đến khí thế giới sơn hà, đại địa đều do 4 đại năng tạo: đất, nước, gió, lửa và 4 đại sở tạo (cũng gọi là 4 vi trần): sắc, hương, vị, xúc hoà hợp tạo thành. Chính trong mỗi đại hay trong mỗi cực vi cũng đều có hoà lẫn các đại hay các cực vi khác.

   2.      Tánh chất câu sinh của tâm, và tâm sở:
Tâm sở có thứ thuộc thiện tánh, có thứ thuộc ác tánh, có thứ thuộc vô ký tánh và có thứ thông cả 3 tánh. Do vậy nên khi tâm vương khởi thiện thời cùng tương ưng với tâm sở thiện. Khi tâm vương khởi ác thời cùng với tâm sở ác tương ưng. Khi tâm vương khởi vô ký tất phải cùng tâm sở vô ký tương ưng

   4.      Nhân quả:
Câu xá chủ trương 6 nhân, 4 duyên, 5 quả

1. Sáu nhân:

 能作及俱有  同類與相應

 遍行并異熟  許因唯六種 (Đ.29.30.1)

a.       Năng tác nhân:
Đây là yếu tố chính trong việc tạo ra quả. Nhân này còn phân chia ra làm 2: (1) Hữu lực năng tác nhân và, (2) Vô lực năng tác nhân.

(1) Hữu lực năng tác nhân là động lực hỗ trợ trực tiếp đưa đến kết quả.
(2) Vô lực năng tác nhân là nhân đối với kết quả không có hỗ trợ trực tiếp và cũng không gây chướng ngại.

b.       Câu hữu nhân:

 俱有互為果  如大相所相

 心於心隨轉(Đ.29.30.2)

Thông thường về mặt thời gian, luôn luôn nhân trước quả sau, tức nhân quả khác thời. Nhưng về mặt không gian nhân quả lại đồng thời, cùng có một lúc, một chỗ nên gọi là câu hữu nhân. Câu hữu nhân có 2 thứ:

1)   Hỗ vi quả câu hữu nhân: tức nguyên nhân hỗ tương. Không có vật nào đứng riêng lẻ mà thành.
2)   Đồng nhất quả câu hữu nhân: tức nguyên nhân hợp đồng. Một người không thể tổ chức thành một xã hội. Nhiều người cùng mục đích mới tổ chức thành xã hội.

c.        Đồng loại nhân:

同類因相似  自部地前生(Đ.29.31.1)

Nhân quả tương tự gọi là đồng loại. nghĩa là tất cả các pháp hữu lậu ở quá khứ và hiện tại có nhân quả đồng loại.

d.       Tương ưng nhân:

相應因決定  心心所同依 (Đ.29.32.2)

Tương ưng nhân liên quan đến tâm vương và tâm sở. Tương ưng nhân giống như câu hữu nhân, vì nó là một phần của câu hữu nhân. Chỉ khác là câu hữu nhân có phạm vi bao quát cả vũ trụ vạn hữu sắc tâm. Còn tương ưng nhân thì chỉ giới hạn ở tâm vương và tâm sở.

e.       Biến hành nhân:

遍行謂前遍  為同地染因 (Đ.29.32.3)

Biến hành đồng nghĩa với đồng loại. Nó là một phần của đồng loại. Nhưng đồng loại có phạm vi quán thông cả vũ trụ, còn biến hành này chỉ giới hạn ở 11 phiền não biến hành của tâm sở.

f.        Dị thục nhân:

異熟因不善  及善唯有漏 (Đ.29.33.1)

Như do nhân thiện nghiệp mà cảm quả báo vui, do nhân ác nghiệp mà cảm quả báo khổ. Nhưng vui là vui, khổ là khổ, không thể bảo tự thân sự vui khổ là thiện hay ác mặc dù quả báo vui khổ là do nghiệp nhân thiện ác gây ra.

2. BỐN DUYÊN:
Duyên nghĩa là quan hệ, tương quan. Sự vật hình thành và tồn tại giữa những mối quan hệ chằng chịt phức tạp. có 4 duyên:

說有四種緣  因緣五因性

等無間非後  心心所已生

所緣一切法  增上即能作 (Đ.29.36.2)

a.       Nhân duyên:

Đây là yếu tố quan hệ mật thiết trực tiếp với kết quả. Nên trong 6 nhân nói trên trừ năng tác nhân, còn lại đều thuộc vào nhân duyên này.

b.       Thứ đệ duyên:

Nghĩa là tiếp nối, còn gọi là Đẳng vô gián duyên. Đây là là nói về tâm và tâm sở. tâm và tâm sở diễn ra trong trật tự liên tục từ hiện tượng trước đến hiện tượng sau.

c.        Sở duyên duyên:

Gọi tắt là duyên duyên. Là duyên của sở duyên, của đối tượng. Chỉ cho khi tâm pháp sanh khởi ắt phải có đối tượng tức sở duyên. Nếu không có cảnh sở duyên thì tâm pháp chẳng có thể sanh khởi.

d.       Tăng thượng duyên:

Nghĩa là khi các pháp sanh khởi duyên này không chướng ngại mà còn hổ trợ. Nó có 2 loại

(1) Thuận tăng thượng duyên: Duyên giúp thêm sự thuận lợi để phát triển, như mưa gió thuận thời đối với hoa màu.
(2) Nghịch tăng thượng duyên: Duyên giúp thêm một cách trái ngược làm lụn bại, như hạn hán đối với hoa màu.

3. Năm quẢ:

5 quả này chia ra làm 2 loại lớn:

a.       Quả hữu vi: Quả hữu vi có 4:

(1) Dị thục quả: Còn gọi là quả báo. Do nhân dị thục chiêu cảm quả báo. Quả này cùng với nhân đã chẳng cùng thời, lại cũng chẳng tương tuỳ, tánh chất cũng chẳng giống nhau.

(2) Đẳng lưu quả: còn gọi là y quả, tập quả. 2 nhân đồng loại và biến hành sanh ra quả. Quả tương tự như nhân nên gọi là đẳng, quả từ nhân sanh ra nên gọi là lưu.

(3) Sĩ dụng quả: Còn gọi là sĩ phu quả. Sĩ là người, dụng là tác dụng của năng lực. Sĩ dụng là tác dụng của người. Có 2 thứ:

- Nhân sĩ dụng: Chỉ năng lực con người hoặc loài có tri giác tạo ra với trí tuệ và chân tay qua các công cụ lao động.
- Pháp sĩ dụng: Chỉ các pháp  có năng lực tác động tạo ra quả giống như con người.

(4)  Tăng thượng quả: nương theo tăng thượng lực của năng tác nhân và 4 duyên hợp thành mà có được kết quả. Như có làm việc thì có kết quả. Tiến trình hình thành kết quả không bị chướng ngại.

b.       Quả vô vi:  

Ly hệ quả: Ly hệ là thoát ly sự ràng buộc của phiền não vô minh.

III. KẾT LUẬN:

Qua tính chất của 22 căn, chúng ta biết được sự tác dụng của mỗi loại, nó có thể đem lại pháp tịnh, và nó cũng có thể đem lại pháp nhiễm.

Sự hỗ tương sinh khởi của tâm sở và tâm bất tương ưng giúp cho các pháp sinh khởi

Sáu nhân, bốn duyên và năm quả cho chúng hiểu rõ được mối quan hệ nhân quả trong các pháp.

 

Đ.Đ. Thích Giác Hiệp

Các tin đã đăng:
Đề cương: Luận Câu-xá (11) Phá ngã chấp
Số lượt truy cập
vistor counter
Tịnh thất Hiệp Giác-Buddhist Retreat Center. 59/6A tổ 3, ấp Cây Da, X. Tân Phú Trung, H. Củ Chi, TP. HCM