
Giảng viên: Đ.Đ. Thích Giác Hiệp
PHÂN BIỆT TUỲ MIÊN
(Anuśaya)
I. Đại ý:
Thế giới được hình thành do nghiệp và tuỳ miên. Tuỳ miên tên gọi khác của phiền não hay hoặc. Nghiệp là nguyên nhân gần và tuỳ miên là nguyên nhân xa, chúng cùng tương ưng để tạo ra thế giới mê vọng. Nội dung phẩm này nói về các loại phiền não, tên gọi, và ảnh hưởng của chúng.
II. Nội dung:
A. Các nghĩa của tuỳ miên:
Tuỳ miên có 4 nghĩa: vi tế, tuỳ tăng, tuỳ trục, tuỳ phược
Câu xá
微細二隨增 隨逐與隨縛
住流漂合執 是隨眠等義(Đ.29.108.1)
Vi tế nhị tuỳ tăng tuỳ trục dữ tuỳ phược
trụ lưu phiêu hiệp chấp thị tuỳ miên đẳng nghĩa
- Vi tế: Vì căn bản phiền não hiện tiền rất vi tế, hành tướng của nó rất khó biết rõ nên gọi là vi tế.
- Tuỳ tăng: Tăng nghĩa là đối với sở duyên và pháp tương ứng có khả năng phát triển.
- Tuỳ trục: Nó thường theo hữu tình gây ra các tội lỗi, nên gọi là tuỳ trục
- Tuỳ phược: Nó thường hiện khởi trói buộc hữu tình, khi chúng ta không muốn nó vẫn sinh, cố ngăn nó vẫn khởi, nên gọi là tuỳ phược
Khi phiền não/tuỳ miên hoạt động nó có đủ 10 tính chất:
一堅根本: Tạo ra gốc rễ kiên cố, khó diệt trừ
二立相續: Tạo thành một chuỗi liên tục, nghĩa là tái tạo liên tục
三 治自田: tự chăm sóc, nghĩa là bổ sung cho phiền não tiếp tục khởi
四引等流: Sản sinh phiền não phụ, như ghét sinh ra giận
五發業有: Đưa đến hành động
六攝自具: Tập hợp, tích tụ các nguyên nhân
七 迷所緣: làm cho con người có nhận thức sai lầm đối với đối tượng nhận thức.
八導識流: Nó dẫn dòng thức đến đối tượng, hay đến với sinh tử
九越善品: làm cho xa lìa việc thiện
十廣縛義: Tạo ra sự trói buộc, ràng buộc vào hiện hữu
Bàn rộng về 10 thứ tuỳ miên
B. Căn bản phiền não/tuỳ miên:
隨眠諸有本 此差別有六
謂貪瞋亦慢 無明見及疑 (Đ.29.98.2)
Tuỳ miên chư hữu bổn, thử sai biệt hữu lục
Vị tham sân diệc mạn, vô minh kiến cập si
Căn bản tuỳ miên sai biệt có 6 loại, đó là: 1. tham, 2. sân, 3. si, 4. mạn, 5. nghi, 6. ác kiến.
Ác kiến có 5: a. thân kiến, b. biên kiến, c. tà kiến, d. kiến thủ, e. giới cấm thủ.
1. Tham: tài, sắc, danh, thực, thuỳ…những thứ làm con người khởi tâm ưa thích, tìm cầu.
3. Sân: tâm không thoả mãn đối với lục trần hay đối với người khác.
4. Si: không phân biệt phải trái mà chỉ hành động theo tham, sân.
5. Mạn: Tâm cao mạn gọi chung là mạn, có 7 loại:
a. Mạn: tâm cao mạn so sánh, đối với người thua mình, tự cho mình hơn, đối với người bằng mình, tự cho mình bằng.
b. Quá mạn: đối với người bằng mình lại cho mình hơ. Đối với người hơn mình lại cho mình bằng.
c. Mạn quá mạn: có tâm cao mạn, đối với người hơn mình lại cho mình hơn,
d. Ngã mạn: có tâm chấp ngã, ngã sở rồi sanh ra cao mạn, dương dương tự đắc, dù không công nhiên so sánh hơn thua với người,
e. Tăng thượng mạn: chưa học, chưa tu, chưa chứng lại tự cho đã học, đã tu, đã chứng,
f. Ty mạn: có tâm cao mạn, mình thua người nhiều, lại tự cho là chỉ thua chút ít, không chịu phục tùng người hơn; hoặc tự mãn với chút ít học thức, đạo đức mà không cầu tiến
g. Tà mạn: có tâm cao mạn. Tự thị về những kiến giải và cách tu tập tà vạy mà khinh khi lấn lướt người khác
5. Nghi: là tánh nó do dự lưng chừng, không nhận định rõ lý nhân quả về mặt mê cũng như mặt ngộ
6. Ác kiến: thấy biết sai lầm, cố chấp làm chướng ngại đạo và tâm sở thiện. Ác kiến lại có 5:
a. Thân kiến: gồm ngã kiến và ngã sở kiến, chấp tự ngã và ngã sở.
b. Biên kiến: chấp có thật ngã, khi chết ngã sẽ tồn tại
c. Tà kiến: Tà kiến chỉ cho những thấy biết sai lệch điên đảo. Tà kiến còn chỉ cho sự phủ nhận nhân quả chính đáng và chấp nhận nhân quả sai trái.
d. Kiến thủ: Tức chấp chặt 3 thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến trên cho là đúng
e. Giới cấm (thủ có 2 loại:
- Không phải là nhân chấp là nhân, tức chấp trì những giới cấm không hợp lý
- Không phải đạo lý chấp là đạo lý, tức tin những đạo lý không đưa đến sự giải thoát.
10 phiền não trên được chia ra làm 2:
1. 5 độn sử: Vì tánh của chúng trì độn, có rễ sâu dày khó trừ.
1. tham, 2. sân, 3. si, 4. mạn, 5. nghi
2. 5 lợi sử: 5 ác kiến được gọi là 5 lợi sử vì tánh của nó mãnh lợi, không có căn rễ sâu dày, dễ đoạn trừ
1. thân kiến, 2. biên kiến, 3. tà kiến, 4. kiến thủ, 5. giới cấm thủ . Hai thứ độn sử và lợi sử này lại chia ra làm 2 loại: a. mê lý hoặc và b. mê sự hoặc.
a. Nhận định sai lầm về đạo lý (Mê lý hoặc):
Mê lầm về đạo lý nhân quả, như: vô thường, vô ngã, Tứ đế. Mê lý hoặc còn là kiến hoặc. Kiến hơặc có 88 sử, là căn cứ vào đa số phiền não ở cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà quy định. Khi mê lý Tứ đế ở cõi Dục thì sẽ khởi ra 32 sử; mê lý Tứ đế ở cõi Sắc thì khởi ra 28 sử; mê lý Tứ đế ở cõi Vô sắc thì khởi ra 28 sử.
32 sử ở cõi Dục là mê lý Khổ đế khởi lên 10 sử (5 độn sử và năm lợi sử) mê lý Tập đế khởi 7 sử (trong 10 sử trừ thân kiến, biên kiến, giới cấm thủ), mê lý Diệt đế khởi lên 7 sử (như Tập đế), mê lý Ðạo đế khởi lên 8 sử (tức trong 10 sử trừ Thân kiến, biên kiến).
28 sử ở cõi Sắc và Vô sắc là trong số 32 sử của cõi Dục, ở cõi Sắc trừ thêm 4 phiền não sân do mê lý Tứ đế nên còn lại 28 sử. Ở cõi Vô sắc cũng vậy.
b. Nhận định sai lầm về sự tướng của vũ trụ (Mê sự hoặc):
Là mê lầm tham đắm về sự tướng, sắc thinh của vũ trụ vạn vật. Mê sự hoặc cũng gọi là tư hoặc, tu hoặc. Tư hoặc có 81 phẩm (bậc). Ở đây chia ba cõi ra làm chín địa, mỗi địa có chín bậc tu hoặc. Như vậy, 9x 9= 81 phẩm.
Như vậy, tự thể của tư hoặc ở cõi Dục có bốn thứ là tham, sân, si, mạn; ở cõi sắc có ba thứ là tham, si, mạn, ở cõi vô sắc cũng có ba thứ là tham, si, mạn. Cộng cả ba cõi thành mười thứ tư hoặc, mười tư hoặc này cộng với 88 sử thuộc kiến hoặc thành 98 sử, được gọi là căn bản phiền não.
C. Tuỳ phiền não/chi mạt hoặc upakleśas:
Chúng được tạo ra tiếp theo sau căn bản phiền não. Có 19 thứ chi mạt hoặc tuỳ tùng theo căn bản nổi lên, đó là:
1. Phóng dật, 2. Giải đãi, 3. Bất tín, 4. Hôn trầm, 5. Trạo cử, 6.Vô tàm, 7. Vô quý, 8. Phẫn, 9. Phú, 10. Xan, 11. Tật, 12. Hối, 13. Miên, 14. Não, 15. Hại, 16. Hận, 17. Siểm, 18. Cuống, 19. Kiêu
D. Phân loại đa dạng (dựa vào tính chất của tuỳ miên):
Ngoài sự phân chia các loại phiền não ra thành căn bản phiền não và tuỳ phiền não ra, chúng ta còn có thể chia các món phiền não ra thành các loại sau đây theo tính chất của chúng:
Tam phược, Tam lậu, Tứ bộc lưu, Tứ ách, Tứ thủ, Ngũ cái, Ngũ thuận hạ phần kiế, Ngũ thuận thượng phần kiết, Lục cấu, Cửu kiết, Thập triền
E. Yếu tố phát sinh phiền não:
Do 3 nhân duyên các phiền não phát khởi:
- Do yếu tố tiềm ẩn: lòng tham khởi lên là do hạt giống tham sẵn có trong tâm chưa được đoạn trừ, chưa biết rõ.
- Do cảnh giới: tức đối tượng/duyên.
- Do gia hạnh: Tức là sự phân biệt sai lệch đối với đối tượng (phi lý tác ý, nếu tác ý lạc thanh tịnh thì gọi là như lý tác ý)
F. Phương pháp dứt trừ phiền não:
1. Liễu tri tính chất tuỳ miên:
Căn bản phiền não và tuỳ phiền não đều nằm trong 2 loại: kiến hoặc và tư hoặc. Đoạn trừ kiến hoặc nhờ ba nguyên nhân, đoạn trừ tư hoặc nhờ một nguyên nhân.
Ba nguyên nhân đoạn trừ kiến hoặc có:
a. Do biết cảnh sở duyên
b. Do năng duyên đoạn
c. Do sở duyên đoạn
Một nguyên nhân đoạn trừ Tư hoặc:
Nhân đối trị đoạn.
2. Hiểu thật tướng của các pháp:
Câu xá thích luận:
已知行無常 復觀彼變異
故說諸受苦 正遍覺智者(Đ.29.267.3)
Dĩ tri hành vô thường phục quán bỉ biến dị
cố thuyết chư thọ khổ Chánh biến giác tri giả
Luận thuyết:
諸所有惡趣 此及他世間
皆無明為根 貪欲所等起(Đ.29.640.3)
Chư sở hữu ác thú thử cập tha thế gian
Giai vô minh vi căn tham dục sở đẳng khởi
III. Kết luận: