Về trang chủ
, 10:45 (GMT+7)
Chuyên san Tri Thức Phật Giáo
Trắc nghiệm trực tuyến
Giáo lý
Thiền Đốn Ngộ Là Cảm Nhận Ngay Cõi Sơ Tâm
21/07/2011 21:27 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Avalokitesvara2_resize.jpeg

Phần Giới Thiệu

Dù qua tám mươi bốn ngàn pháp môn Phật dạy để phật tử hay tu sĩ tu tập đạt được định tâm, từ những pháp môn căn bản đến những phương pháp khác nhau cốt để tâm được an tịnh. thì các phương cách để an tâm đều dùng tưởng tri và thắng tri, mục đích là được định tâm và đạt trí tuệ với thể cách năng sở song vong trên bình diện tâm thức. Ngoài cách điều tâm ra, thiền cần mở ra nhiều phương pháp chế ngự tâm này cho nó thuần thục vâng lời theo Ta (ông chủ) được an tịnh mà Phật đã dạy nhiều Pháp Môn cho chúng sanh tùy căn cơ trình độ để tu tập. Tuy có nhiều pháp môn khác nhau để điều tâm, tựu chung chỉ có phân biệt hai cách làm cho tâm được an tịnh; đó Thiền tiệm ngộ, tương đối làm cho dòng tâm thức bớt chao đảo, bớt vọng niệm, bớt gây nghiệp thức, dòng tâm thức trong sáng hơn; còn Thiền đốn ngộ, tuyệt đối rèn luyện tuệ giác chặt chẻ và miên mật hơn để rửa sạch dòng tâm thức triệt để hơn, từ đó nghiệp thức trong tâm dần dần sáng sủa không còn vẩn đục. Tuy vậy khi dùng thắng tri chỉ chú trọng đến cách điều tâm thuộc phạm vi trí tuệ (thắng trí), một phần lớn trong toàn bộ tu tập của Phật Pháp. Chủ đích của bài này là trình bày HànhThiền Đốn Ngộ qua cảm nhận ngay cõi sơ tâm, hay thể nhập nơi chốn tịch tĩnh y nhiên, đó cũng là con đường đến thẳng chân nguyên ngắn nhứt.

I. Tâm Nhận Diện (cảm giác)

Ngủ giác quan là phương tiện tiếp xúc với trần cảnh để nhận diện ảnh hay hay bóng dáng của trần cảnh. Do đó tâm chúng ta cảm nhận được hình ảnh của sự vật qua ngũ giác quan mà thôi. Thí dụ, khi ta thấy con bò là thấy hình ảnh con bò ở võng mạc cuả mắt mà thôi. Đó là CẢM GIÁC. Nhắc lại, (Về thị giác) khi ta nhìn con bò, hình ảnh con bò hội tụ ở võng mạc của mắt, truyền dẩn bởi thị giác thần kinh lên não, lức đó ta mới nhận diện được hình ảnh con bò. Khi có thời gian thì sự vật chạy dài trong không gian, với ảnh ta vừa thấy đó không còn là ảnh thật nữa (Sắc tức thị không: Sắc lập tức (Một sát na) biến thành không thật nữa. Hể có thời gian thì có không gian. Sự vật huyễn hóa theo thời gian và ảnh không còn thật trong không gian. Vậy, khi nhận diện được hình ảnh (thấy), ấn tượng chấn động lực(nghe), không khí hay hơi (ngửi), ấn tượng kích thích (nếm), hình ảnh tiếp giáp của da hay cơ thể (xúc) là thể không của đối tượng qua tiền ngũ căn. Thí dụ, như thị giác, sự vật chiếm cứ trong không gian (hư không) một dung thể không: sự vật và dung thể không của nó khắng khít nhau như một, thì thể không của nó là hình ảnh sự vật được hội tụ ở võng mạc mắt khi mắt nhìn sự vật. Vậy khi thấy sự vật cụ thể ở trong không gian là cảm giác hình ảnh của nó ở võng mạc của mắt mà thôi.

II. Tâm Nhận Thức (Tâm Thức)

Khi chúng ta cảm giác hình ảnh sự vật thì lúc đó chúng ta mới nhận biết được (perceive) tên sự vật. Sự vật có tên mà ta nhận thức đó là GIÁC THƯC (hay Tâm Thức: Consciousness hay Perception) chạy dài theo thời gian. Khi nhận thức ngay niệm đầu một sát na và không có kéo dài thời gian nữa là ta có giác thức nguyên sơ (niệm đầu) hay là chơn thức (pure perception or true consciousness). Hình ảnh con bò là thể không được nhận thức bởi tâm trí (tâm trí cũng cùng thể không.) Tâm và vật đồng thể không, nên sự nhận thức mới thành hình. Lục căn phối hợp với lục trần (thể không) sanh ra lục thức. Lục thức không có thực thể, Phật gọi là lục tặc, vì thức là nghiệp. Dòng tâm thức luôn trôi chảy không ngừng nghỉ. Nó không có khởi điểm cũng như kết thúc và nó dính nhiều pháp trần làm cho dòng tâm thức luôn ô nhiễm và vẩn đục.

.III. Tâm Tri Nhận (Tri Thức)

 Khi tâm ta tri nhận (cognize) sự vật đã nhận thức (tâm thức), ta có tri thức (Cognition). Trong quá trình tri nhận sự vật trong hiện tại (Với cảm giác), quá khứ hay tương lai (với ý thức), cả ba thời chúng ta tri nhận được sự vật mới có GIÁC TRÍ (hay Tâm Trí). Giác Trí nầy là Tư Tưởng, Suy Nghĩ, Lý Luận v.v. theo thời gian. Nó là sự lập lại của tâm thức hay tri nhận các thức (tâm trí) nên nó tạo ra nghiệp thức. Thế ta có thể gọi là tâm duyên ý mã vì tư tưởng chúng ta lúc nào cũng ẩn hiện trong tâm trí từng giây từng phút liên tục, chỉ trừ có những động lực khác hay pháp môn có khả năng chận dừng được vọng tưởng đó.

IV. Tâm Trí Nguyên Sơ: Tri Thức Nguyên Thủy và Sơ Tâm

     1. Tri Thức Nguyên Thủy: Tâm tri nhận ngay tâm thức nguyên sơ để có Giác Trí Tuệ

Tri thức nguyên thủy còn gọi là thủy giác hay giác trí tuệ. Khi Phật thành đạo là do đạt được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ hay Tánh Giác thì các pháp giải thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong các thời thiền tập. Thực ra Giác Trí Tuệ có thể thực hiện trong tứ oai nghi. Vậy Giác Trí Tuệ là tri nhận đầu nguồn của Giác Trí và xa lìa nó ngay (vô thời gian). Nói rõ hơn là khi chúng ta nhận thức niệm đầu của Cảm Giác (Sensation) để có Giác Thức  nguyên sơ (Pure Perception hay first consciousness), lập tức tri nhận Giác Thức nguyên sơ ấy để được Giác Trí (Cognition là Giác Trí có thời gian) và xa lìa giác trí ngay mới có Giác Trí Tuệ (Vô thời gian). Vì Giác Trí Tuệ là Tri Thức Nguyên Thủy hay Thủy Giác (Tướng Hư Không) đồng thể với Chân Trí (Tánh Hư Không). Thí dụ, chúng ta thấy con voi là giác thức hay tâm thức, vì thấy hình ảnh đối tượng hay con vật trước (Cảm Giác) rồi nhận thức (perceive) tên con vật đó là con voi (hay biết được là con voi, biết nầy thấy biết của căn, luôn luôn đi kèm theo cảm giác, nên thấy con voi, biết tên đối tượng là cái thức hay tâm thức hay giác thức. Thức là thực tại duyên khởi hay giả danh mà thôi). Rồi chúng ta tri nhận (dùng ý trí) giác thức ấy để có giác trí. Vậy khi chúng ta nhận thức niệm đầu của con voi (thấy biết con voi đầu tiên) là ta có giác thức nguyên sơ, lập tức ta tri nhận (Hay Biết: Cognize chớ không phải là perceive) giác thức nguyên sơ ấy để có giác trí tuệ và phải xa lìa (không trụ) cái biết ấy nữa thì mới có giác trí tuệ toàn diện.

     Thật ra cùng một tâm tại sao lại có chân và vọng, hay chân tâm và vọng tâm? Chân tâm còn gọi là Chân Như, Căn Bản Trí, Niết Bàn, Chân Tánh, Như Lai Tạng, Như Như, Chơn Không hay Không. Còn Vọng Tâm hay Tâm Thức luôn biến đổi không có thực thể. (Xem Nhất Nguyên Luận, Phổ Nguyệt, 2003 trong website Người Cư Sĩ, 8/2003).

      2. Sơ Tâm: Nhận Diện thẳng vào cảm giác nguyên thủy

Sơ tâm là một trạng thái của cảm giác nguyên sơ. Tâm cảm nhận ngay thể không của đối tượng không có thời gian hay không trụ vào cảm gíác nguyên sơ đó. Trong giây phút cảm giác ngay thể không của đối tượng tại đó và lúc đó mà thôi, lúc đó cảm giác còn trinh nguyên chưa nhận diện được biết tên đối tượng. Lục Tổ gọi là "bản lai diện mục" hay còn gọi "Trước khi cha mẹ sanh ra là gì?" Nếu chúng ta không khéo, thì thời gian kéo dài sẽ huyễn hóa cảm giác ấy, không còn trinh nguyện, mà là nhận diện tên của đối tượng rồi. Cho nên sơ tâm là cảm giác thể nhận nơi tịch tĩnh y nhiên, một trạng thái của tâm thái nhẹ nhàng của một tâm hồn chưa dấy động trần cảnh. Trạng thái của một tu sĩ thâm căn đã lão luyện công phu nhiều kinh nghiệm nhiều năm để vượt qua thực hành giác trí tuệ, một trạng thái cuối cùng để phủ định được thức và trí (hoàn toàn vô ngã) đến đích đạo

    V. Thiền Định là Tìm Về Cõi An Tịnh

     1. Thiền tạo cho Tâm được Định (Tập Trung:Tưởng Tri) 

Nhứt Tâm là Ðịnh

·          Dòng Tâm Thức

Thường người ta quan sát tất cả sự kiện vào tâm, bằng căn trần thức, hay tâm thức. Tâm thức là những thực tại giả lập hay tùy thuộc vì khi thực tại (sự vật) đó tự vượt ra khỏi chính chúng nó để vạch ra bóng dáng trong không gian. Đã vượt ra khỏi sự vật, là những bóng dáng chúng không còn là chúng nữa, là giả vọng mà thôi. Cho nên tâm thức không có thật do chấp trước hoặc tưởng tượng vì còn tâm trong tâm ngoài, phân tâm. Tâm thức luôn biến đổi như vậy, nên dòng tư duy không chính xác. Dù có trí xen vào để biết, sự vật ấy do trí và thức liên hợp nhau thành tư tưởng. còn tư tưởng là còn có sự biến đổi, đó là vọng tưởng, là một mớ hổn độn của tư duy.

·         Tập Trung Nhứt Tâm

Dòng tư duy hổn độn đó được gom lại thành một đối tượng như đề muc, hơi thở, thoại đầu, công án, lục tự Di Dà, hay lục tự Ðại Minh Chú, vv để dễ tri nhận. Sự tập trung trong một tâm duy nhất một đối tượng không đổi thay hay vọng động ngoài nó. Ðó là sư nhứt tâm

·         Ðịnh Tâm

Nhứt tâm là quá trình nhận thức chuyên nhứt vào một đối tượng hay đề mục nào đó để tâm được định. Nhứt tâm là định tâm làm cho tâm an ổn ở vị trí cố định, không còn hổn độn như tâm viên ý mã nữa hay suy nghĩ mông lung mà nặng nhiều tư tưởng vẩn vơ. Ðịnh tâm là sự nhận thức đối tượng hiện hữu, dù đối tượng đó ở quá khứ hay dự đoán tương lai phải trải ra ở hiện tại. Chúng ta nhận thức đối tượng đó như là cái đang là (hiện tại) là cái đang diễn ra và lăn trôi từng sát na sanh diệt. Chúng ta đã gom được đối tượng đó ở hiện tại, từ đó chúng ta bắt đầu quan sát đối tượng đó kỹ lưỡng hơn.

·         Có Ðịnh Mới Hiểu Biết

Ðịnh là gom lai, tập trung một đối tượng hay đế mục mà quan sát và nhận xét nhiều khía cạnh thấu đáo. Ðó là chúng ta dùng trí và thức liên hợp nhau để tri nhận một đối tượng hay đề mục duy nhứt.  Dù ta tập trung một tư tưởng hay đề mục nào thì làm sao tránh kẻ hở để cho tư tưởng liên hệ hay không liên hệ xen vào tâm ta. Cho nên tư tưởng hay đề mục đó rất phong phú và hiểu rõ tư tưởng đó nhiều hơn. Nhờ có tập trung nhứt tâm như vậy tâm được định thì sự hiểu biết sự vật rõ ràng hơn. Những nhà bác học hay nhà tư tưởng nhờ nhứt tâm như vậy mới phát minh khoa hoc, hoặc thành bậc minh triết. Tác dụng định tâm quan thiết như vậy,  nên có nh ững con người  phi thường đ ặc biệt  trên thế gian. Ðịnh tậm mới hiểu biết đối tượng rõ ràng  Nhứt tâm bất loạn là một loại định cao độ, vì sự tập trung chuyên nhứt vào một đối tượng và miên mật  hành trì khộng vọng tâm, chỉ duy có đối tượng mà thôi, không gì  ngoài nó (tha tính không); từ đó phát sinh ra ký ức quá mẫn, như nhà bác học hay nhà trí thức lỗi lạc..

Tuy nhiên định tâm không phải là trí tuệ, vì tập trung được nhứt tâm, chỉ là gom tư tưởng lại, còn là tưởng tri mà chưa giải phóng được dòng tư duy của mình. Cho nên trong Kinh Pháp Môn Căn Bản (Kinh Trung Bộ) Phật đã giảng, Tưởng tri là sự suy nghĩ, tưởng nhớ, tưởng tượng, ký ức, thuộc loại Mạc- Na- thức hay trong A-Lại-Da-thức, là những hình ảnh được khôi phục lại, có cái trung thực, có cái sai lạc và ngay cả có cái tương tự lẫn lộn với hình ảnh đối tượng cũ, nhưng không phải đối tượng cũ. Đã là những hình ảnh cũ khôi phục lại là những ảo ảnh của những đối tượng khiếm diện (kể như không có đối tượng). Do đó tưởng tri là biết do tưởng thức hoặc suy nghĩ lại những ý tưởng so đo, tưởng tượng những đối tượng không thật có do tiền ngũ căn trực tiếp nhận thức, nên sự nhận thức chấp trước, lệch lạc và không chơn thật của tri kiến phàm phu, chúng sanh thường tình mà thôi chưa thể an tậm được tuyệt đối. Tuy nhiên dùng tưỡng tri vào một đôi tượng để quán xét thì phát hiện thêm nhiều hiểu biết đối tượng đó sâu sắc hơn. Ðịnh tậm mới hiểu biết đối tượng rõ ràng  .

Nhứt tâm  bất loạn là trạng thái tập trung cao độ và tâm được định có những hệ quả như sau:

·          Học bài, làm bài giải toán luận đề của học sinh làm cho tư tưởng của hắn trở nên sâu sắc, hiểu biết nhiều;

·         Nghiên cứu, thí nghiệm và phát minh khoa học  cho các nhà bác học;

·         Tư duy sâu sắc, tư tưởng phong phú cho các nhà văn chương lỗi lạc, triết gia v.v…;

·         Quán sát tư tưởng thâm sâu một đề mục cho  sự thiền định của Bà La Môn giáo, và  cho các nhà minh triết

Niệm Phật, niệm chú, tham thoại đầu, khán công án v.v…, giúp những tu sĩ sẽ đạt sở cầu của họ, v.v….(xem Nhứt Tâm và Trí Tuệ, Phổ Nguyệt)

       2. Thiền đạt được Giác Trí Tuệ (Trí hay Tánh Hành)

         * Dùng Tri Thức Nguyên Thủy

 Trí Tuệ Là Ðoạn

Trí tuệ hay giác trí tuệ là tri nhận vô thời không (biết sát na hiện tiền) giác trí đang là. Giác trí đang là, một đối tượng được gom lại từ cái liên hợp trí và thức hay tư tưởng. Giác trí tuệ cắt đứt dòng tư tưởng hay đối tượng nên dứt  bặt ái thủ hữu và không còn năng sở. Biết sát na hiện tiền (trí tuệ) đoạn tận năng sở (năng sở song vong).

Đạo Phật là đạo giải thoát nói từ viễn cảnh cứu cánh, nhưng trên thực tế thì trí tuệ mới là pháp căn bản để tu tập cho mọi tu sĩ đến bờ giác ngộ. Từ sự giác ngộ, chúng sanh mở ra đường sáng vượt khỏi đám mây mù của dòng tâm thức vốn che khuất bầu trời trí tuệ. Tâm thức là nhận thức sự vật (lục trần) bằng lục căn, nên lục thức hay tâm thức vô thường và biến dị. Sự vật được nhận thức chẳng qua là do duyên khởi hoặc giả danh, nên chúng chịu luật sanh diệt theo thời gian ngay cả nhận thức cảm thọ tưởng thức là những hành động liệt tri. Muốn vượt thoát khỏi sự sanh diệt ấy tất phải dùng trí tuệ soi sáng mọi biến đổi, vô thường của thọ, tưởng, và thức (nói chung là dòng tâm thức)  mà đến thế giới bất sanh bất diệt, trong sáng và thường hằng. Trí tuệ có khả năng trong sạch hóa mọi dòng tâm thức bằng cách hư không hóa mọi hữu tồn dù tâm hay vật. Rèn luyện trí tuệ là một nhu cầu thiết yếu cho mọi tu sĩ sơ cơ hiểu rõ trước khi tu tập các pháp môn.  Do đó trí tuệ là đoạn diệt mọi tư tưởng vốn mang nhiều hệ lụy đến mầm sanh diệt và biến đổi của tâm thức. Ðó là tri thức nguyên thủy, là cái biết sát na hiện tiền.

      3. Thiền Tạo Phương Pháp để Tâm được Thể Nhập Chốn Tịch Tĩnh Y Nhiên

           (Thân Hành)

          * Cảm Nhận Ngay nơi Cảm Giác Nguyên sơ (sơ tâm)

tâm là năng sở song vong một cách tuyệt đối không dùng trí mà dùng thân cảm nhận (cảm giác) đối tượng mà thôi. Ðó là Chánh Giác (Vô niệm: buông xả}.

          Buông xả và ngưng động: Từng luồng hơi (chưa có tên thở) tự nhiên tự động hiện hữu rõ ràng: nó-là-nó tại-đó và lúc đó mà thôi, một trạng thái trống rỗng. Vô Niệm

         Trạng thái thân chứng nhờ thể nhập chốn tịch tĩnh như nhiên, tức là phải trải qua ba giai đoạn trên (huân tập kinh nghiệm thuần thục), để hành giai đoạn thứ tư nầy một cách rốt ráo, nghĩa là vô tướng vô thức và vô trí (hay vô tánh) tức là vô niệm, từng chập luồng hơi  tự nhiên và tự động vào, ra, hiện hữu rõ ràng rỗng không. Khi Phật đã trải qua ba lối thở trên (kinh nghiệm) là đã đạt được chánh trí rồi như các kinh Phật đã giáo hóa chúng sanh sau này. Ðó là lúc Bồ Tát đã đoạn diệt cảm thọ vui buồn, vượt khỏi ái thủ hữu được minh tâm và giải thoát. Giai đoạn thứ tư này là Pháp mà Phật đã thể hiện được Tánh Giác còn gọi là Pháp Vô Niệm, Buông Xả là không Niệm Tướng , không Niệm Thức và cả không dùng Trí mà ngộ nhập vào từng dòng hơi vô ra tự động hiện hữu tự nhiên rõ ràng  trong trống không mà miên mật thực hành không đứt đoạn. Ðó là Thiền Thứ Tư.

        "Khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an"

(Kinh Sống Một Mình - Rahogata Sutta)

(SN 36.11)  

  * Thực hành

 Trên tiến trình đi đến năng sở song vong vượt khỏi tâm trí là một nổ lực nắm bắt thực tướng của vạn hữu bằng sự miên mật thể nhập đối tượng một cách tuyệt đối không còn dùng trí. Thật ra, thực hiện định niệm đối tượng bằng thân hành, trong tứ oai nghi, đi đứng nằm ngồi, mọi cử động, mọi hoat động đều phải chánh niệm như trong Phẩm Thân Hành Niệm-119 (Kinh Trung Bộ), chỉ trích phần thân hành niệm ở đoạn ngồi thiền:

….. Và này các Tỷ-kheo, thân hành niệm tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có công đức lớn ?

          Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô. Chánh niệm, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết : "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài vị ấy biết: " Tôi thở ra dài" . Hay thở vô ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra". An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vi ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm

         Bồ Tát phải sống một mình lúc đó thân tâm mới được yên tịnh mà tu hành, như trong phẩm Sống Một Mình-36.11 (kinh Tương Ưng Bộ):

…..5) Nhưng này Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt các hành là tuần tự: khi chứng được Thiền thứ nhứt, lời nói được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được đoạn diệt; ..

  Thể Nhập Cảm giác Vô Ra (Thân Hành: Vô Niệm: không niệm tướng niệm thức cả niệm trí): Pháp bổn như vô pháp: Như là không thở: Thể Nhập chốn tịch tĩnh như nhiên, biết cảm nhận luồng hơi thầm lặng Vô Ra. Chỉ dùng cảm giác của đối tượng mà thể nhập, không dùng trí. Tâm không là trạng thái không còn dính dấp gì đến tri thức.  tức là giác thức hay giác trí ngay cả tri giác nguyên thủy đi nữa, cũng phải dùng trí tuệ, thì tâm trí sẽ hao mòn, dòng trí tuệ không còn 100%. Cho nên chỉ sử dụng cảm giác, lúc đó trần cảnh hay vạn hữu ở trạng thái y nhiên; nó-là-nó không bị dòng tâm trí biến đỗi. Có tâm trí xen vào dù gì đi nữa cũng dễ bị ái thủ hữu lôi kéo hơn

 “Cảm giác vô,

 Cảm giác ra.” (Chỉ cảm nhận luồng hơi vô ra, chưa nhận thức tên “hơi thở”)”

           Cảm giác Vô Ra, vì khi nhận dạng cảm giác (bóng dáng) của một đối tượng mà chưa được nhận thức (chưa được đặt tên hay đọc tên) tên đối tượng là chỉ thể nhập nơi tịch tĩnh y nhiên, tức là cảm giác chỗ đối tượng chưa thành hình, chưa có tên (giả danh), đó cũng gọi là tri thức nguyên thủy hay tuệ giác của chân trí. Cảm nhận luồng hơi vô luồng hơi ra mà thôi. Khi chưa có tên đối tượng thì làm gì có hỷ lạc trong tâm.

Khi xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

          23) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh", thời định niệm...

          Tóm lại năng sở song vong một cách tuyệt đối không dùng trí mà dùng thân cảm nhận (cảm giác) đối tượng mà thôi. Ðó là Chánh Giác (Vô niệm: buông xả}.

          Buông xả và ngưng động: Từng hơi thở tự nhiên tự động hiện hữu rõ ràng: nó-là-nó tại-đó và lúc đó mà thôi, một trạng thái trống rỗng. Vô Niệm

         Trạng thái thân chứng nhờ thể nhập chốn tịch tĩnh như nhiên, tức là phải trải qua ba giai đoạn trên (huân tập kinh nghiệm thuần thục), để hành giai đoạn thứ tư nầy một cách rốt ráo, nghĩa là vô tướng vô thức và vô trí (hay vô tánh) tức là vô niệm, từng chập hơi thở tự nhiên và tự động vào, ra, hiện hữu rõ ràng rỗng không). Khi Phật đã trải qua ba lối thở trên (kinh nghiệm) là đã đạt được chánh trí rồi như các kinh Phật đã giáo hóa chúng sanh sau này. Ðó là lúc Bồ Tát đã đoạn diệt cảm thọ vui buồn, vượt khỏi ái thủ hữu được minh tâm và giải thoát. Giai đoạn thứ tư này là Pháp mà Phật đã thể hiện được Tánh Giác còn gọi là Pháp Vô Niệm, Buông Xả là không Niệm Tướng , không Niệm Thức và cả không dùng Trí mà ngộ nhập vào từng dòng hơi vô ra tự động hiện hữu tự nhiên rõ ràng  trong trống không. Ðó là Thiền Thứ Tư.

        Khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an

(Kinh Sống Một Mình - Rahogata Sutta)

(SN 36.11)  

 VI. Kết Luận

 Thiền đốn ngộ là thể nhận ngay thể không cảm giác đối tượng và đoạn diệt trí mà thôi. Còn năng sở song vong là hành trình đoạn diệt tướng, đoạn diệt thức,và đoạn diệt trí (tương đối) và thể nhập vào cảm giác đối tượng hơi thở (tuyệt đối), nên tâm là pháp năng sở song vong tuyệt đối, chỉ dựa vào cảm giác, không còn dùng tới trí nữa. Thật sự cảm giác do thân thể con người cảm nhận vào thể không của đối tượng. Muốn đoạn diệt cái biết (của căn lẫn của trí), thì lúc đầu thân phải nắm bắt ngay cảm giác vô thời gian (vô trụ) mới đạt thực tướng đối tượng. Tựu chung áp dụng cấu trúc của tâm lý (nhắc lại) để phân tích như tìm thực tướng đối tượng là tướng không của nó chiếm cứ trong không gian một dung thể không. Như con bò, tướng không tự nhiên của nó là dung thể không chiếm trong không gian, khi ta nhìn nó, thì tướng không ấy chiếu trong võng mạc mắt ta mới thấy, rồi nhờ nhận thức (perceive) tướng không ấy có tên là con bò. Do đó ta thấy con bò là ta chỉ thấy hình ảnh nó mà thôi, nên con bò chỉ là giả danh, không phải là con bò bằng xương bằng thịt trong mắt ta.Vậy lý do tại sao ngay khi ngay khi thân cảm nhận đối tượng đầu tiên ta không nắm bắt cảm giác, một thực tướng của đối tượng, thì làm gì ta phải duyên theo cái giả danh huyễn hóa của vạn hữu?  Cho nên trong pháp tu chứng chánh đẳng chánh giác của đức Phật chỉ rõ lúc thân hành và sống một mình, thì định niệm hơi thở trong giai đoạn thứ tư (tứ thiền) thì bắt đầu hơi thở ra vô được đoạn diệt, nghĩa là đoạn diệt hơi thở; hơi thở, một đối tượng giả danh, huyễn hoá, không thật vì do duyên khởi từ căn trần thức, nên còn biến dị, phải nắm bắt ngay đối tượng tư nhiên của nó hiện hữu trong không gian ngay khi thân cảm nhận nó (tướng không là thực tướng mà thân cảm giác). Nói tóm lại, Thiền đốn ngộ là cảm nhận ngay thể không cõi sơ tâm, nơi mà hình ảnh của cảm giác vừa chớm hiện (mới nhận diện thể không của đối tượng, chưa biết được tên đối tượng); đó cũng là tiến trình năng sở song vong, là pháp thể nhập chốn tịch tĩnh y nhiên, là trong sạch hóa tâm trí, là hư không hóa mọi hữu tồn để đạt chí đạo là tâm chơn như hay tâm không. Khi tâm được trong sạch không dấy động trần cảnh, thì sống đời thanh thản, không gây thêm duyên nghiệp. Vậy khi sống được tự do tự tại, thì khi chết cũng tự tại không có nghiệp lực nào ràng buộc, há không phải là giải thoát sao?

 Tham khảo

Đại Kinh Sáu Xứ(kinh Trung Bộ), Năng Sở Song Vong, Nhứt Nguyên Luận, Nhứt Tâm và Trí Tuệ,Pháp Tu Chứng Chánh Ðẳng Giác của đức Phật, tác giả Phổ Nguyệt trích trong websites Quảng Ðức, Tạng Thư Phật Học…; http://www.tangthuphathoc.com/tacgia/phonguyet.

http://www.quangduc.com

Phổ Nguyệt

Các tin đã đăng:
Con đường mười nghiệp lành
 Trích “Kinh Thập Thiện Nghiệp Ðạo”:
Số lượt truy cập
vistor counter
Tịnh thất Hiệp Giác-Buddhist Retreat Center. 59/6A tổ 3, ấp Cây Da, X. Tân Phú Trung, H. Củ Chi, TP. HCM