Có một pho tượng đá đã lặng lẽ tồn tại suốt hơn 500 năm ở một ngôi chùa tỉnh Hà Bắc mà không mấy ai biết đến giá trị quý giá của nó. Đó là pho tượng Phật Quan Âm mang hai chức năng Nam Hải và Tọa Sơn tại chùa thôn Cung Kiệm, xã Nhân Hòa, huyện Quế Võ, Hà Bắc(1)
Tượng cao 51cm, được đặt trên bệ đá rộng 43cm, cao 37cm. Tượng được tạo theo tư thế ngồi thiền kiểu nhà Phật. Hai chân xếp bằng, hai bàn chân bắt chéo, lòng bàn chân ngửa lên. Hai tay đặt lên đầu gối, một tay cầm chén nước, tay kia đặt nhẹ lên đùi trong tư thế cầm giữ một vật gì đấy, nhưng đã bị sứt phía trên nên không đoán định được. Khuôn mặt bầu, nhân hậu, ngón tay, ngón chân dài. Mũi cao, cánh mũi to, miệng rộng, môi dày có nổi gờ. Vai to. Trên đầu tượng đội mũ. Chính giữa mũ là bông sen, xung quanh là những tia dài uốn cong như mây vờn. Gờ phía trên mũ được tạo bởi những bông hoa cúc nhỏ, gờ phía sau với những tua dài uốn cong, gờ phía dưới tiếp giáp với trán là dải khăn quấn quanh đầu được tạo bởi những dọc song song. Từ chỗ gờ tiếp giáp với hai tai trở về phía trán là những bông cúc nhỏ với khoảng cách đều nhau. Tượng được khoác lên mình hai lớp áo. Lớp trong là áo dài đến tận chân, hai tà áo buông, hở ngực, bụng. Tà áo vắt sang hai cổ tay rồi chảy dài đến chân với nhiều nếp gấp uốn lượn. Hoa văn khắc trên gờ áo trước ngực và sau lưng là những cánh hoa cúc, hoa dây, xen lẫn hoa sen. Từ bả vai trở xuống có những tia dài như tia lửa.
Bệ đá đặt tượng được làm thành 3 phần: trên cùng là bệ sen gồm những bông sen, cánh sen và hoa dây trên bề mặt. Dưới bệ sen là những múi to, khỏe, xòe ra đỡ bệ sen hình tròn ở trên. Khoảng giữa thắt lại, chạm khắc sóng nước, đường văn sóng to, nhấp nhô như hình sin, nhưng khoảng cách không đều nhau. Giữa sóng nước đó là hai con rắn chạm nổi. Đầu chúng có nét giống đầu rồng nhưng không có bờm. Hai đầu rắn đang ngoảnh mặt vào nhau, một con đang thè lưỡi. Thân rắn được tạo dáng mềm mại, uyển chuyển, có vây to. Hai đầu rắn chầu dưới mặt chính của bệ, còn thân của mỗi con rắn được kéo dài về từng mặt của bệ, đuôi chúng gặp nhau và quấn vào nhau ở mặt bệ cuối cùng. Sóng nhấp nhô phía trên và dưới mình rắn. Phần cuối của bệ đá là 2 bậc gờ đá hình vuông.
Khi khảo sát niên đại bức tuợng, thực may mắn chúng tôi đã phát hiện những dòng chữ Hán khắc ở sau lưng tượng và trên bệ đá. Tất cả có 67 chữ. Trong đó 39 chữ khắc trên lưng tượng là: (Phiên âm):
“Lê triều Đệ tam Hoàng đế Thái Hòa Kỷ Tỵ thất niên. Bắc Giang trung lộ Vũ Ninh huyện, Kiệm xã, tín chủ Đào Ngân, Nguyễn Thị Biên, Nguyễn Lăng, Đào Thị Điều, Nguyễn Bé, Nguyễn Thị Thiếu đẳng”.
Đáng chú ý là 8 chữ “Lê triều Đệ tam Hoàng đế Thái Hòa” viết theo chiều ngang thành 2 dòng:
Lê triều
Đệ tam Hoàng đế Thái Hòa.
Còn từ các chữ “Kỷ Tỵ thất niên (...) đẳng” viết theo chiều dọc, từ phải qua trái.
Các chữ khắc ở bệ đá là: “Thái Hòa thất niên tuế thứ Kỷ Tỵ bản xã tín chủ Đào Ngân, Nguyễn Thị Biên, Nguyễn Bé, Nguyễn Thị Thiếu, Nguyễn Lăng, Đào Thị Điều đẳng”. Những chữ này viết thành 2 hàng ngang trên hai gờ đá.
Hai phần chữ Hán được khắc trên lưng và bệ đá của tượng có nghĩa là:
“Năm Kỷ Tỵ niên hiệu Thái Hòa thứ 7 triều vua thứ ba nhà Lê (1449). Các tín chủ ở xã Kiệm, huyện Vũ Ninh, lộ Bắc Giang Trung là: Đào Ngân, Nguyễn Thị Biên, Nguyễn Bé, Nguyễn Thị Thiếu, Nguyễn Lăng, Đào Thị Điều”.
“Năm Kỷ Tỵ niên hiệu Thái Hòa thứ 7. Các tín chủ ở bản xã là Đào Ngân, Nguyễn Thị Biên, Nguyễn Bé, Nguyễn Thị Thiếu, Nguyễn Lăng, Đào Thị Điều”
Xem xét văn bản chữ Hán trên đây ta thấy:
- Cả hai lần chữ khắc ở sau lưng tượng và bệ đá đều khẳng định: tượng được một nhóm người có lòng hảo tâm dựng và cung tiến vào năm Kỷ Tỵ Thái Hòa thứ 7, tuy rằng thứ tự ghi năm can, chi và niên hiệu có hơi khác nhau. Niên đại phía sau lưng ghi thật là cụ thể, rõ ràng thậm chí có thể nói là dư thừa về thông tin.
Dưới chân gỗ bệ đá đặt tượng, lại nhắc lại lần nữa niên đại tạo dựng tượng “ Thái Hòa thất niên tuế thứ Kỷ Tỵ”. Và tên những người cung tiến lại một lần nữa xuất hiện. Có lẽ như thế cốt để cho đời sau khỏi hiểu lầm, cho là tượng và bệ đá không phải là một, do hai thời điểm khác nhau và những người khác nhau cung tiến.
Địa danh ghi trong văn bản “Bắc Giang Trung lộ Vũ Ninh huyện…” là những tên huyện, lộ chỉ xuất hiện vào cuối đời Trần - Hồ đến đầu thời Lê sơ(2). Sang đến đời Lê Thánh Tông, năm 1446, vùng này đã đổi lại là “ Thừa Tuyên Bắc Giang”. Huyện Vũ Ninh cũng là tên huyện xuất hiện vào thời Lê sơ, đến cuối đời Trần - Hồ, nằm trong địa phận của lộ Bắc Giang(3). Đến thời Lê Trung hưng, huyện Vũ Ninh được đổi thành hai huyện Võ Giang và Quế Dương. Xã Kiệm là tên cổ của xã Cung Kiệm huyện Võ Giang (nay là thôn Cung Kiệm xã Nhân Hòa). Các bia còn lại hiện ở chùa Cung Kiệm từ thời Lê Chính Hòa đến thời Quang Trung đều ghi là xã Cung Kiệm. Khi điều tra tên thôn xã thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, chúng tôi có gặp các cụ cao tuổi trong thôn để hỏi về tên thôn. Các cụ cho biết: từ lâu lắm rồi gọi là Kiệm chứ không phải là Cung Kiệm. Điều này phù hợp với địa danh “xã Kiệm” ghi sau lưng tượng.
- Về nghệ thuật mô típ trang trí văn hóa, chúng tôi cũng có một vài nhận xét là: Kích thước pho tượng nhỏ như một số tượng quan hầu thời Lê sơ tại Điện Lam Kinh(4). Hoa văn sóng nước nhấp nhô với làn sóng to khắc trên bệ đá của tượng phù hợp với nét chủ đạo của hoa văn thời Lê sơ trên các bia đá là hoa văn sóng nước với những sóng to hình sin(5).
Như vậy, theo chúng tôi, dựa trên cơ sở văn bản chữ Hán trên pho tượng cùng với một số nét về hoa văn trang trí: Sóng nước, hoa dây nêu trên có thể xác định đây chính là một tác phẩm mĩ thuật về tượng của thời Lê sơ. Ngoài ra một số tự dạng của chữ Hán mang đậm nét dấu ấn của thời đại. Như kiểu viết chữ “niên”. Bình thường chữ “niên” viết phải đủ nét. Nhưng một số văn bản cổ chữ vẫn hay viết thành hoặc. Nhất là trong bia đá, kiểu viết chữ “niên” như thế thường thấy xuất hiện trên các bia thời Trần, thời Lê sơ. Sang đến các đời sau rất ít gặp. Chúng tôi đã so sánh tượng này với một số bia có niên đại Thái Hòa thì thấy rằng kiểu viết chữ “niên” đặc biệt như trên là giống nhau(6).
Hy vọng rằng việc phát hiện và xác định niên đại Lê sơ cho pho tượng này sẽ là một cái mốc quan trọng để bổ sung cho mảng tượng Lê sơ hiện còn trống vắng trong lịch sử mĩ thuật nước ta. Hiện vật quý hiếm này cần được giữ gìn và bảo vệ.
Tháng 8 - 1993
CHÚ THÍCH
(1). Pho tượng này do Phạm Thị Vinh - Lã Minh Hằng phát hiện. Nhân đây cho phép chúng tôi gửi lời cảm ơn tới các cụ cao tuổi, các chính quyền thôn Cung Kiệm, xã Nhân Hòa và các đồng chí ở phòng Văn hóa - Thể thao huyện Quế Võ đã giúp đỡ chúng tôi trong việc phát hiện ra pho tượng này.
(2), (3). Theo Địa chí Hà Bắc, Sở Văn hóa Hà Bắc xuất bản, 1982.
(4). Xem Mỹ thuật thời Lê sơ, Nxb. Văn hóa.
(5). Ví dụ hoa văn trên các bia Lam Sơn Vĩnh lăng bi tạo năm Thuận Thiên thứ 6 (1433), Bảo lai tự phụng Phật bi tạo năm Thiệu Bình thứ Thiên Nam Đệ nhất (1434) (kí hiệu 17773), hoặc Ông chủ lưu đề tạo năm Quang Thuận 8 (1467) (ký hiệu 7968).
(6). Ví dụ bia Bối động thánh tích bi kí tạo năm Thái Hòa 11 (1453) (kí hiệu 2104-06).