Cuối năm 1992, trong đợt đi sưu tầm tư liệu Hán Nôm ở huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, chúng tôi đã in được tại chùa Phúc Nghiêm (Chùa Tổ) thuộc xã Hà Mãn hai văn bản của hai bộ ván khắc.
1- Cổ Châu Pháp Vân phật bản hạnh ngữ lục;
2- Cổ Châu phật bản hạnh.
Ở bài viết này xin giới thiệu với bạn đọc văn bản "Cổ Châu phật bản hạnh".
1. Tình trạng bộ ván khắc:
Bộ ván khắc được làm bằng gỗ thị, trọn bộ gồm 12 tấm, 21 mặt, khổ 28x32cm. Mỗi mặt được kẻ thành 12 dòng. Dòng đầu tiên của mặt thứ nhất khắc mấy chữ Hán: "Cổ Châu phật bản hạnh", đây là tiêu đề của bộ ván khắc. Từ dòng thứ hai trở đi mỗi dòng khắc 14 chữ, chia làm hai phần, trên 6 chữ, dưới 8 chữ rất đều đặn. Khoảng giữa dòng thứ 6 và dòng thứ 7 (bản tâm) của mỗi mặt ván có một dòng nhỏ, phần trên khắc ba chữ: "Cổ Châu hạnh", phần dưới là số thứ tự mặt ván khắc.
Toàn bộ ván khắc có 496 câu thơ thể lục bát. Dòng 10 của mặt ván thứ 21 khắc dòng chữ: "Cảnh Hưng thập tam niên chi Nhâm Thân phục nguyệt nhất dương cát cảnh" (Cảnh đẹp ngày lành tháng 11, năm Nhâm Thân Cảnh Hưng thứ 13 (1752). Đây là dòng niên đại của bộ ván khắc. Bộ ván được nhà chùa bảo quản cẩn thận đến nay gần như còn nguyên vẹn (chỉ mất một chữ cuối ở mặt ván thứ 8 dòng 9).
2. Nội dung văn bản.
Câu chuyện được kể lại dưới dạng thơ lục bát về sự tích bốn pho tượng Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Nội dung tóm lược như sau:
Từ thời Hán Linh Đế, có vị đại sư hiệu là Khưu Đà La sang Giao Châu truyền đạo. Lúc bấy giờ ở làng Mãn Xá, huyện Siêu Loại có một người con gái tên là Man Nương theo thầy học đạo, không ngờ mang thai. Sau hơn 14 tháng, đến ngày mồng 8 tháng 4 nàng sinh được một con gái. Theo lời cha, nàng mang con trả lại cho nhà sư. Trước lời cầu xin của nhà sư, một cây đa to mở thân đón đứa bé vào lòng. Rồi nhà sư tặng cho nàng một chiếc gậy và dặn nàng tìm nơi đất tốt thì lập am tu. Một hôm Man Nương về quê thăm mẹ, không ngờ gặp dịp đại hạn, đã ba năm không một trận mưa, dân khắp vùng đói khát. Nhớ lời thầy Khưu Đà La dặn, Man Nương cắm cây gậy xuống phía đông thành Luy Lâu, nước tự nhiên tràn đầy, cứu được muôn dân khỏi cơn đói khát. Một hôm, trời mưa to, gió lớn, cây đa tróc rễ trôi về bến sông trước thành Luy Lâu. Sĩ Vương sai thợ chia cây làm 4 đoạn, tạc 4 pho tượng để thờ, đó là các tượng.
- Pháp Vân (được thờ ở chùa Diên Ứng).
- Pháp Vũ (được thờ ở đài Liên Hoa chùa Thành Đạo).
- Pháp Lôi (được thờ ở điện Lưu Ly chùa Phi Tướng).
- Pháp Điện (được thờ ở chùa Trí Quả).
Tương truyền về sau các pho tượng trên đều rất linh ứng; có nhiều công phù hộ cho dân cho nước; nên đều được các đời vua ban sắc phong. Bốn pho tượng được gọi chung là "tứ pháp".
3. Giá trị văn bản mới phát hiện:
a, Góp phần làm phong phú thêm tư liệu về "tứ pháp".
Hiện nay ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có hai văn bản in là: "Cổ Châu Pháp vân nhật bản hạnh ngữ lục" kí hiệu A.818 và "Cổ Châu tứ pháp phả lục" kí hiệu A.2051, đều ghi về sự tích tứ pháp. Bản A.818 dày 42 tr, khổ 28x15cm. Sự tích tứ pháp ở đây được viết bằng văn Hán, và sau từng câu hoặc từng ý, được dịch sang văn Nôm. Bản A.2051 dày 20 tr, khổ 21x14 cm. Sự tích tứ pháp cũng được viết bằng văn Hán. Có Tứ pháp ngọc phả Quốc âm gồm 126 câu thơ Nôm thể lục bát, kể sự tích 4 vị thần nói trên. Văn bản "Cổ Châu phật bản hạnh" tuy cũng nói về "tứ pháp", nhưng lại được diễn đạt hoàn toàn bằng thơ Nôm thể lục bát, tổng cộng 496 câu. Đây là chỗ không giống với 2 bản trên.
Dưới đây là một vài so sánh bản mới sưu tầm với bản A.818, để bạn đọc có một ý niệm nào đó về chỗ giống nhau và khác nhau giữa chúng.

| Chi tiết so sánh |
Văn bản A.818 |
Văn bản Cổ Châu Phật bản hạnh |
| 1, Nơi tu của nhà sư Khưu Đà La |
"Duy Khưu Đà La tòng Tu Định lữ vu kỳ gia. Cư thường lĩnh tọa, lũy Nhật bất thực" (Chỉ một mình Khưu Đà La theo Tu Định về trọ ở nhà ông ta. [S] thường ngồi tĩnh tọa, nhiều ngày không ăn) (tờ 2a, dòng 4,5) |
"Có thầy ở mãi Tây thiên luyện đạo tu thiền hiệu Khưu Đà La. Lập am dưới gốc cây đa, Trụ trì cảnh ấy nhật dạ niệm kinh". (mặt 1, dòng 7,8). |
| 2, Man Nương thụ thai |
..."Tụ Định dĩ thời sơ quả cung dưỡng, lịch niên bất quyện. Hữu thời sử A Man độc vãng, đán khứ tịch hoàn. Kí trâm vị giá, cư nhiên hữu dự". (Tu Định theo từng mùa, mang hoa quả cung dưỡng cho nhà sư, qua nhiều năm không mệt mỏi. Có lúc [ông] sai A Man đi lại một mình, sáng đi tối về. [A Man] đã lớn mà chưa gả chồng, tự nhiên có thai). (tờ 4b, dòng 1-4). |
"Man Nương tín kính lòng thành. Ở nhà một mình nằm giữ khuê trung. Đà La thầy trở về phòng. Bước qua tâm phúc hư không chuyện dời. Uy linh chiêu khí bụt trời. Tự nhiên cảm động hoài thai tâm trường" (mặt 2, dòng 7-9). |
| 3, Cầu mưa |
"Thái Ninh tam niên thu hạn. Sắc lệnh Trung thư Tướng công Đỗ Kiệt suất quần thần triều phục. Tả nhai Tăng Thống Lý An Tĩnh suất cà sa hữu vệ uy nghi pháp phục. Hành khiển ty Trịnh Tá Tư suất Thái thường cổ nhạc uy nghi bồi dẫn pháp giá chỉ điển linh Đông Lâm tự, nghênh phật nhập Thái nội Thủy Xương điện. Đế cung pháp phục, phần hương triển bái, nhiên đại vũ". (Mùa thu năm Thái Ninh thứ 3 (325) hạn hán. Vua ban sắc lệnh cho Trung thư Tướng công Đỗ Kiệt dẫn đầu quần thần mặc áo triều. Tả nhai Tăng thống Lý An. Tĩnh dẫn đầu bên hữu mặc cà sa pháp phục uy nghi. Quan Hành khiển là Trịnh Tá Tư dẫn đầu quan Thái thường trống nhạc uy nghi, theo phò xa giá vua đến chùa Đông Lâm rước Phật vào điện Thủy Xương. Vua mặc pháp phục thắp hương lễ bái, bỗng nhiên mưa to. (tờ 16a, dòng 3-6; và 16b, dòng 1-4). |
"Năm sau đời vua Thái Ninh, Ba thu đại hạn nhiễu hành khó khăn. Sắc chỉ vua phán cận thần, Tên Đỗ Công Kiệt vương thần triều đình. Xướng khắp tăng lục chư danh, Cùng thầy Hòa thượng môn đình chúng tăng. Cà sa tĩnh, phục đôi hàng, Cùng quan Thái thường cổ nhạc uy nghi. Rước bụt kì vũ kinh kỳ, Chùa Khán Sơn tự bên tây điện rồng. Mệnh vua lễ bái cúc cung, Trời liền mưa xuống đùng đùng bốn phương (mặt 16, dòng 4-9) |
| Chữ Nôm |
A.818 |
CCPBH |
|
tờ 1b, dòng 6 tờ 16a, dòng 1 |
Không |
 |
tờ 6a, d12 tờ 7a, d5 tờ 8a, d5 tờ 8b, d12 tờ 9a, d3 tờ 10a, d6 tờ 10b, d12 tờ 13a, d4 tờ 14b, d1 tờ 15a, d2 |
mặt 6, d8 mặt 7, d3,8,9 mặt 8, d1 mặt 10, d2 mặt 21, d8 |
 |
tờ 1a, d4 tờ 2a, d1 tờ 15b,d1,2,3 tờ 16b, d11 tờ 17a, d1 tờ 18a, d4 tờ 20b, d1 |
mặt 3, d9 |
 |
Không |
mặt 5, d6 mặt 9, d7,8 mặt 10, d9 mặt 11, d1,3,6 mặt 12, d10 mặt 13, d2,8 mặt 15, d9, 10, 11 mặt 16, d1, 4, 5, 9, 11, 12 mặt 17, d10 mặt 18, d3,9 mặt 19, d1,5 |
| Chữ Nôm |
A.818 |
CCPBH |
| 先 |
tờ 9a, d3 tờ 10a, d1 tờ 13a, d5 tờ 14a, d2 tờ 16a, d4,6 |
mặt 1, d11 mặt 3, d5 mặt 6, d5 |
|
tờ 2a, d2 |
Không |
| Chữ Nôm |
A.818 |
CCPBH |
| 南 |
tờ 6b, d2 tờ 15b, d1 tờ 19b, d6 tờ 20b, d1 |
mặt 5, d10 mặt 8, d7 mặt 15, d8 mặt 16, d4 mặt 18, d2,4 |
|
Không |
mặt 5, d5 mặt 15, d5 |
 |
tờ 1b, d12 tờ 11b, d10 tờ 14a, d1,7,8 tờ 17a, d9 tờ 18a, d4 |
Không |
 |
Như vậy chữ 南 được dùng giống nhau ở cả hai văn bản.
Văn bản Cổ Châu Phật bản hạnh có những nét riêng về hình thức cũng như nội dung so với các văn bản còn lại, đặc biệt là với văn bản A.818 được khắc in cùng thời "Cổ Châu phật bản hạnh" rõ ràng là một tư liệu quý, để tìm hiểu về sự tích "tứ pháp", cùng tự dạng chữ Nôm ở thế kỷ XVIII. |
LÊ VIỆT NGA (Tạp chí Hán Nôm, số 3, 1993)